Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp dã tâm dùng vũ lực hòng đặt lại ách thống trị trên đất nước ta một lần nữa. Với ý chí "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946, toàn thể Nhân dân Việt Nam một lòng một dạ đoàn kết xung quanh Đảng, Mặt trận Việt Minh, nhất tề đứng lên, quyết tâm bảo vệ đất nước với niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng.
Nhận thấy vị trí chiến lược không chỉ với Tây Bắc Việt Nam mà cả vùng Thượng Lào và Bắc Đông Dương, Pháp đã tập trung ở Điện Biên Phủ hơn 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn, trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới với 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu yểm hộ lẫn nhau, cơ cấu phòng ngự vững chắc, hòng nghiền nát quân chủ lực của ta.
Trên cơ sở nắm chắc mọi âm mưu, hành động của địch, phân tích, đánh giá tình hình một cách chính xác, khoa học, đầu tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy và giao cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng Mặt trận. Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng của chiến dịch, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã quyết định tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ gồm 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân số trên 40.000 cán bộ, chiến sỹ. Cả nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch. Cả một hậu phương rộng lớn của đất nước, từ vùng tự do Việt Bắc, Liên khu IV, vùng mới giải phóng Tây Bắc đến vùng du kích và căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, vùng mới giải phóng ở Thượng Lào, đều dồn sức người, sức của với hơn 260.000 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn, hướng về Điện Biên, bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.
Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng tiến công Điện Biên Phủ. Chiến dịch diễn ra thành 3 đợt trong gần 2 tháng. Đợt 1 từ ngày 13/3 đến ngày 17/3/1954, quân ta đã mưu trí, dũng cảm diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ hệ thống phòng ngự trên hướng Bắc và Đông Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, mở toang cánh cửa cho quân ta tiến xuống vùng lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 từ ngày 30/3 đến ngày 26/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm, phát triển trận địa tới sát sân bay, thắt chặt vòng vây, chia cắt, khống chế các khu vực còn lại trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch. Đợt 3 từ ngày 01/5 đến ngày 07/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm còn lại ở phía Đông, diệt một số cứ điểm phía Tây và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 17 giờ 30 phút ngày 07/5/1954, Tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu của tập đoàn cứ điểm bị bắt sống. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng!
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, là chiến thắng của đường lối kháng chiến, đường lối quân sự độc lập, đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo cơ sở căn bản và quyết định cho việc đi đến ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam; mở ra giai đoạn cách mạng mới, đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam; đồng thời chấm dứt sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp ở ba nước Đông Dương, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
72 năm trôi qua, ký ức Điện Biên vẫn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Tinh thần Điện Biên năm xưa đã trở thành hành trang quý báu và nền tảng vững chắc để các thế hệ nối tiếp nhau xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam thân yêu. Từ Chiến thắng Điện Biên 1954 đến Đại thắng Mùa Xuân 1975, đất nước ta đã sạch bóng quân thù, non sông nối liền một dải, kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân cả nước ngày càng được nâng cao, thành quả cách mạng thực sự thuộc về Nhân dân.
Kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tri ân, tưởng nhớ đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc; tri ân sự giúp đỡ to lớn, chí nghĩa, chí tình của bạn bè quốc tế. Đồng thời, tiếp tục hun đúc tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy khát vọng hòa bình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển đất nước; giáo dục thế hệ trẻ phát huy truyền thống anh hùng, tích cực đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.